ĐÔI BỜ HIỀN LƯƠNG-SÔNG BẾN HẢI

Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải trở thành địa danh quan trọng của đất nước suốt 20 năm thế kỷ trước. Từ sau Hiệp định Genève 1954, vĩ tuyến 17 chạy dọc theo sông Bến Hải trở thành ranh giới tạm thời chia cắt đất nước, chờ ngày tổng tuyển cử vào 2 năm sau.

Hiệp định Genève quy định một khu phi quân sự, rộng 1,6 km về mỗi phía tính từ bờ sông Bến Hải, kéo dài từ cửa biển Cửa Tùng (huyện Vĩnh Linh) lên biên giới Việt – Lào. Trên thực tế, khu phi quân sự có độ rộng không đều tùy theo địa hình, nhằm đảm bảo không chia cắt xóm làng. Cầu Hiền Lương được Pháp xây dựng năm 1952 với chiều dài 178 m, có 7 nhịp, trụ bằng bê tông cốt thép, thân cầu bằng thép, mặt cầu lát ván gỗ thông. Trong bút ký của nhà văn Nguyễn Tuân, cây cầu có 2 màu sơn với 894 tấm ván, phía bắc 450 tấm và phía nam 444 tấm.

Cuộc chiến màu sơn cũng diễn ra quyết liệt. Với khát vọng thống nhất, phía bờ bắc sơn lại màu xanh thì bờ nam sơn vàng. Cuộc chiến màu sơn kéo dài mãi đến 1960 thì giữ nguyên 2 màu xanh – vàng.

Năm 2014, cầu Hiền Lương lần đầu tiên được phục dựng 2 màu xanh -vàng như từng tồn tại, nhằm nhấn mạnh khát vọng thống nhất của dân tộc Việt Nam. Trong ảnh là cảnh sơn lại màu cầu ở phía Bắc năm 1960 và cảnh phục chế năm 2014.
Nhân dân hai bên bờ Hiền Lương tự do qua lại giới tuyến 1954-1956. Theo Hiệp định Genève, dọc khu phi quân sự có 10 điểm để nhân dân 2 bờ qua lại, gồm cầu Hiền Lương và 9 bến đò. Mỗi điểm có trạm gác kiểm soát. Người dân muốn vào khu phi quân sự phải có giấy thông hành.

Hiện nay, cầu sắt Hiền Lương được phục chế theo thiết kế ban đầu của người Pháp để phục vụ tham quan. Mỗi năm, khu di tích này đón khoảng 20.000 lượt khách.